CAO HỌC

CAO HỌC
Các bạn thân mến! Các bạn từng đọc thơ, khảo luận, phê bình và các mẩu chuyện vui của Vương Trọng. Thì hôm nay, mời các bạn đọc một truyện ngắn xem sao. VT
CAO HỌC
Truyện ngắn
Chị nhô đầu ra khỏi cửa sổ, đưa tay vẫy vẫy mà như cố níu lại hình ảnh chồng và con: anh ấy bế thằng bé, cả hai bố con cùng đưa tay vẫy chị, hình như thằng bé còn nói ngọng nghịu: “Mẹ mau về với con”. Chiếc xe khách tăng dần tốc độ, anh phụ lái nói như quát vào gáy chị làm chị vội vàng thụt đầu, thu tay vào cho đúng nội quy xe khách, nhưng mặt chị vẫn quay về phía sau, dù hình ảnh hai bố con đã khuất từ lâu!
Chưa bao giờ chị hối hận cho quyết định đi học cao học của mình như lúc này. Học gì học mãi thế? Bao nhiêu kiến thức ở bốn năm học ở khoa toán trường đại học Tổng Hợp chị đã dùng làm gì đâu khi dạy ở trường cao đẳng này? Thế thì học thêm để làm gì cơ chứ? Mà lại học những hai năm tức là bằng nửa thời gian chị đã học đại học! Khi nhà trường cho đi ôn thi cao học ở Hà Nội, chị không hề từ chối, thứ nhất cũng muốn thăm lại HàNội sau nhiều năm về tỉnh lẻ, thứ hai để thể hiện khả năng chuyên môn của mình. Rồi chị đỗ rất cao trong số giáo viên về thi. Chuyện đó cũng dễ hiểu thôi: phần đông họ học đại học sư phạm, còn chị từng tốt nghiệp đại học Tổng Hợp kia mà! Khi đậu rồi, chị quyết định không đi học trước con mắt ngạc nhiên của đồng nghiệp. Có phải ai cũng được chọn đi thi cao học đâu? Mà đi thi thì chắc gì đã đỗ? Thế mà chị đậu rất cao lại từ chối đi học! Ông hiệu trưởng động viên chị đi học, hội đồng giáo viên đông viên chị đi học. Chị vẫn khăng khăng từ chối. Không ai hiểu được suy nghĩ của chị…
Chiếc ô tô vẫn chạy theo hướng bắc. Con đường này mười bốn năm về trước chi đã theo xe ra Hà Nội với tờ giấy nhập trường đại học. Dạo đó, trường đại học Tổng hợp vẫn là ước mong của những học sinh ưu tú phổ thông. Chỉ những người thật giỏi mới dám thi vào, đề thi khó, lấy ít, nhưng ai đậu được thì sinh viên các trường khác phải kính nể. Chị đã đậu, hơn nữa lại là khoa toán! Khi vào lớp, chị mới phát hiện ra, toàn lớp có những hơn năm mươi nam, chỉ có hai nữ! Hình như sự tư duy toán học không phù hợp với nữ giới nên có quá ít nữ sinh dám thi vào khoa toán, và số nữ sinh đau lại càng ít. Như các bạn cùng lớp, bốn năm ở trường, chị chỉ biết học và chỉ học mà thôi theo cách phát biểu tiên đề của Ơ-cờ-lít! Cả lớp chị không ai đi ngủ trước mười hai giờ đêm. Ở ký túc xá, tối lên hội trường học, mười giờ đêm trở về phòng ngủ mắc màn rồi trở lại hội trường học tiếp, có khi đến một giờ sáng. Chỉ mới năm thứ hai đã sử dụng được giáo trình bằng tiếng Nga, năm thứ ba giải gần xong các tuyển tập đề giải tích thuộc chương trình các trường đại học Liên Xô… Bốn năm chị quên mất giơi tính của mình để đạt được sinh viên giỏi liên tục.
Dạo ấy sinh viên truyền nhau câu phương ngôn: “Quỷ Bách Khoa, ma Tổng Hợp” để chỉ nhan sắc của nữ sinh viên hai trường đại học tiếng tăm nhất ở Hà Nội lúc bấy giờ. Qua mấy khóa trước đây, đối với khoa toán trường tổng hợp, câu phương ngôn đó chẳng oan: những người tạo hoá cho khả năng làm việc bằng trí óc thì dung nhan thật hạn chế. Cô thì thẳng đuồn đuột như chiếc bút chì, cô thì gân guốc, xù xì mang vẻ đàn ông… Chị là trường hợp ngoại lệ, như một kẻ nhầm trường, nhầm khoa ở nước da trắng mịn, khuôn mặt khả ái và vóc dáng đầy nữ tính. Khi mới nhập học, không mấy ai tin chị có thể theo kịp tư duy trừu tượng của toán học cao cấp, vì họ nghĩ rằng chị thuộc loại người “lao động bằng mặt” hơn là lao động bằng trí óc! Chị biết mọi người nghĩ thế, chị càng quyết tâm học thế nào cho bạn bè kính nể, nhưng làm điều đó chẳng dễ dàng một tý nào khi bạn bè chị là tinh hoa toán học của các tỉnh dồn về một lớp. Nhưng chị đã làm được điều không dễ dàng đó: sau bốn năm học, chị là một trong năm sinh viên nhận bằng xuất sắc. Chị được giữ lại trường làm trợ giảng hai năm để sau đó trở thành cán bộ giảng dạy. Sau hai năm trợ giảng, một lần về tết, chị giật mình nhớ ra mình đã bước qua tuổi hai lăm! Hai mươi lăm tuổi, chị khám phá ra vẻ đẹp của biết bao công thức toán học nhưng chưa một lần nghĩ về vẻ đẹp của thân thể đàn ông. Ở quê chị, con gái lấy chồng sớm lắm, ngoài hai mười tuổi đã coi là báo động cấp một, hăm ba, hăm bốn coi như là ế ẩm. Thế mà chị đã sang tuổi hăm lăm, hăm lăm tuổi chưa từng biết yêu đương là gì, thế mà sắp làm cán bộ giảng dạy trường đại học Tổng Hợp! Đàn ông học vị, chức quyền càng cao, tuổi tác càng cao thì miền-xác-định- vợ càng rộng, còn đàn bà thì ngược lại, nghĩa là tuổi tác, học vị càng cao, càng khó lấy chồng! Ai hỏi chị làm vợ bây giờ khi hầu hết giáo sư, tiến sĩ, kể cả cán bộ giảng dạy họ đều có vợ con? Chính lúc ấy quê chị mở trường cao đẳng, chị xin ngay về đấy dạy học trước sự ngạc nhiên của nhà trương Tổng Hợp và sự vui mừng của trường cao đẳng. Với kiến thức chuyên môn của chị, để dạy toán cho sinh viên cao đẳng, hầu như chị chẳng phải chuẩn bị gì đáng kể. Vì thế, chị có điều kiện để dứt ra ngoài toán học, chú ý sửa sang cho nhan sắc của mình. Nhan sắc vốn là con vật nũng nịu, thích được chiều chuộng thường xuyên, vì quá lâu chị không để ý, nó giận dỗi, không chịu chiều theo ý muốn của chị. Khuôn mặt bớt đi sự dịu dàng khi làn da không mịn màng như thưở chị mới vào trường đại học. Phải thay đổi mốt quần áo, phải thoa chút phấn son. Chị giận mình là kẻ “ngu lâu”, bây giờ mới tập làm những cái người ta thành thạo từ tám hoánh. Tay chị điêu luyện với phấn viết mà ngỡ ngàng với phấn son, tô xong lại rửa đi, rửa xong lại tô… không biết bao lần chuẩn bị cho việc bước ra khỏi phòng. Đến tuổi hai mươi tám, chị mới làm quen với một người con trai, một kỹ sư xây dựng bằng tuổi chị, là chồng chị gần bốn năm nay.
Ai đó bảo rằng: nhan sắc của người con gái lớn tuổi chưa chồng do người chồng tương lai nắm giữ, khi gặp người đó, sẽ đòi lại được! Câu đó thật chí lý. Chỉ về chung sống với anh vài tuần, nhan sắc tuổi dậy thì đã tìm về với chị. Chị đứng trước gương nhìn mình mà kinh ngạc về khả năng của người đàn ông: anh đã biến một người con gái quá lứa khô cằn thành người đàn bà mịn màng đầy quyến rũ. Đêm nằm trong vòng tay anh, gối đầu lên ngực anh, chị mới nhận ra vẻ đẹp toán học thật là mơ hồ và trừu tượng, chẳng thể nào so sánh với vẻ đẹp của anh mà chị mê mải khám phá. Chị cảm ơn trời đất đã sinh ra anh, tự hào về quyết định sáng suốt của mình từ bỏ trường Tổng hợp, về với trường cao đẳng mới gặp được anh mà tạo hoá đã dành riêng cho mình. Chị cảm ơn anh đã cho chi một đứa con trai có làn da và đôi mắt của chị, vầng trán của anh, vầng trán thông minh và nghị lực. Một khu vườn nhỏ ở thị xã, một ngôi nhà cấp bốn xinh xắn phía sân có bồn hoa mười giờ, gần bể nước có khóm hoa hồng anh ve vuốt trông nom vi ngoài hương sắc ra, loài hoa đó mang tên chị…
Ở trường đại học Sư phạm, bộ phận cao học được bố trí ở tầng một của khu nhà bốn tầng. Chị đến muộn vài ngày và được xếp vào ở trong phòng bốn giường với ba cô giáo, hai dạy sinh vật, một dạy văn. Để túi đồ đạc lên giường mình, nhìn ba bếp dầu ở cạnh ba giường, chị thở dài ngao ngán. Cái cảnh một mình một bếp chị mới thoát khỏi ba bốn năm nay, bây giờ lại tái diễn. Chị ngồi thừ ra một lúc lâu sau lời chào chiếu lệ những người cùng phòng, chị phân vân không biết có nên đi mua bếp dầu như những chị kia hay là ở tạm vài hôm, ăn cơm bình dân tạm, xem tình hình ra sao, nếu không, sẽ “đào ngũ” về với chồng con! Mà chồng chị cũng lạ thật, chị đã nhất quyết không đi, còn ra sức thuyết phục! Nào là sau này bằng cấp cần lắm, chỉ tốt nghiệp đại học chả là gì đâu! Em lấy bằng thạc sĩ xong, về trông nhà, trông con cho anh đi học. Anh thấy kiến thức của một kỹ sư không đủ để xử lý các tình huống phức tạp… Ông này rõ hâm rồi, thế thì vợ chồng không chỉ xa nhau hai năm mà là bốn năm hoặc lâu hơn nữa!
Chị mở túi lấy quyển album nhỏ, đưa ảnh đứa con trai ra ngắm nghía, rồi đến lượt ảnh chồng…
– Thằng cu và ông xã nhà chị, phải không chị Hồng? Thằng cu kháu quá, mà ông xã trông cũng được đấy chứ, nhưng em hỏi thật, có phải anh ấy hơi … hiền, phải không?
Cô giáo Thương, dạy văn là người quen chị trước hết, vì chính cô ta dẫn chị vào phòng này. Thương kém chị một tuổi, người hơi thấp, nở nang, da trắng, tính vui vẻ tự nhiên. Chị ầm ừ trả lời cho qua chuyện rồi cho ảnh vào album, cất vào túi. Chị cảm thấy bực mình vì có một người dám chê anh ấy, dù chê là hiền đi nữa thì chị cũng không cho phép. Cô giáo Thương chưa nhận ra sự bất bình của người bạn mới thì phía ngoài cửa nghê tiếng gọi:
– Cô Thương, cô Thương ơi, mở cửa cho chúng cháu xin xô nước!
Về mùa này, cả khu nhà bốn tầng chỉ tầng một, tầng cao học có nước máy nên sinh viên các tầng trên thỉnh thoảng vẫn xuống xin nước. Điều đó không có gì đáng nói, đáng nói là nó không gọi bọn mình bằng chị, mà lại gọi bằng cô. Có lần Thương đã bực mình, dù bực mình giả vờ thôi nhưng cũng làm mấy đứa sinh viên nhìn nhau, e ngại khi nghe Thương đọc câu ca dao ứng tác: “ Lần sau mà cứ gọi cô. Xuống đây chị sẽ vất xô ra ngoài”. Thế mà hôm nay lại còn gọi cô nữa. Thương kể lại chuyện này cho chị nghe rồi nói thêm:
– Đừng ai mở cửa cả, chờ cho chúng nó gọi chị rồi lại hay!
Hình như bọn sinh viên biết được điều đó, nên chỉ một lúc sau đã ơi ới gọi:
– Chị Thương và mấy chị trong nhà ơi, cho chúng em một xô nước!
Có thế chứ, có ngoan cố mãi được không nào! Thương vừa nói, vừa đi ra mở cửa và vui vẻ vói
– Lấy mấy xô cũng được, nhưng nhanh lên , không được tắm rửa ở đây, bọn chị còn nhiều việc cần đến nhà tắm!
Các cô sinh viên lại rối rít vâng dạ, cảm ơn, xách nước đi. Thương quay lại nói với chị:
– Bọn chúng tưởng bọn mình già cả hay sao mà lại lễ phép quá đáng đến vậy? Chị cũng thế, em cũng thế, còn lâu ta mới già! Phải không chị Hồng?
Chị gật đầu. Thương tiếp:
– Chị có biết không, hôm trước em vô tình nghe bọn sinh viên ngồi trên bãi cỏ, đố nhau, một đứa hỏi cả đám: “ Vừa già, vừa xấu, đun nâú suốt ngày, là con gì?”. Cả đám im lặng, buộc cậu ra câu đố giải đáp: “ Đó là con cao học”. “ Con gì?”. Có đứa hỏi lại. “ Con cao học ở tầng một ấy mà”. Rồi cả bọn cười, nhìn em, làm em tức không chịu nổi!
Đó là kỷ niệm ngày cao học đầu tiên của chị.
Căn phòng đã có thêm cái bếp dầu thứ tư. Nghĩa là chị không “ đào ngũ”. Chị học tập chị em để củng cố chỗ ở của mình bằng cách mua vải làm ruy-đô, căng quanh giường tạo thành một giang sơn riêng biệt. Thế là có thể ngồi xem ảnh con, viết thư cho chồng hoặc lặng yên hồi tưởng về hạnh phúc ra đình, không bị ai bất ngờ quấy phá. Ở đâu cũng có luật riêng, khi màn ruy-đô đã khép kín, coi như cửa đã khóa chặt, không một ai có quyền kéo ra khi chưa được chủ nhân cho phép. Có như thế thì bốn bà cao học mới có một khoảng riêng đáng tin cậy trong căn phòng chật hẹp này.
Cao học không giống như sinh viên đại học, giờ lên lớp không nhiều, phần lớn thời gian dành cho nghiên cứu và sưu tầm tài liệu. Chuyên môn chị không lo, bởi chị tin ở kiên thức và sự lĩnh hội của mình, cái chị lo là làm sao khuây khỏa nỗi nhớ chống con, để tâm trí có thể tập trung vào chuyện học tập. Đã không học thì thôi, đã học không được kém người khác. Điều chị hằng suy nghĩ những năm phổ thông, những năm đại học chợt thức dậy trong lòng chi. Và chỉ vài tuần lên lớp, vài buổi tiếp xúc với giáo sư, chị càng củng cố lòng tin của mình.
Trong phòng cao học này, cả bốn cô giáo đều tuổi “băm” . Cô giáo Thương là người trẻ nhất, có hai con, chồng là công an ở hị xã ở quê. Cả hai cô sinh vật, tuổi đáng bậc chị trong phòng, lại chưa lập gia đình. Nhưng khách đến thăm phòng cao học này nhiều nhất là của cô Thương, toàn những người văn vẻ, ngồi nói chuyện rồi đọc thơ luôn đấy. Lúc đầu chị cảm thấy thật khó chịu, nếu có chỗ để thoát ra khỏi phòng thì chị chẳng dại gì phải ngồi náu mình trong bức ruy-đô để phải nghe những lời khôi hài nhạt nhẽo và những vần thơ con cóc đó. Nghe nói gia đình của Thương rất hạnh phúc, hai con, một trai, một gái, đứa lớn đã học lớp ba, vợ chồng thương yêu nhau. Có lần sau buổi đi chơi đêm khá khuya với anh chàng hay đọc thơ đó, trở về phòng, Thương sà vào lòng chị và thì thầm như muốn san sẻ niềm hạnh phúc. Chị nghe xong, hỏi:
– Em làm như vậy không sợ có lỗi với anh Tân à?
Tân là tên chồng của Thương, người cán bộ công an đang nuôi nấng hai con cho vợ đi học. Thương dụi đầu vào ngực chị, cười rúc rích:
– Chị Hồng “âm lịch” quá chừng! Trước kia em cũng nghĩ như chị, nhưng bây giờ em nghĩ khác rồi. Về chuyện gia đình, trong chuyện Kiều, ông Nguyễn Du đã từng viết: “ Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm”. Nghĩa là phải có trong thì mới có ngoài chị ạ! Hơn nữa em cũng nghĩ rằng mình vui vẻ một tý, cuộc đời thêm tươi, thoải mái để học tập, chứ có mất gì đâu…
– Em không mất gì nhưng anh Tân thì mất!
– Anh ấy cũng chẳng mất gì cả. Em vẫn là người vợ đảm việc nhà, yêu thương và chiều chuộng anh ấy khi gần gũi. Khi xa, em vẫn viết thư đều đặn, nhắc nhở anh ấy cho con ăn như thế nào, tắm giặt cho con, nghĩa em vẫn là người vợ tuyệt vời của anh ấy!
Chị cũng cười vì hai chữ “ tuyệt vời” ấy. Cổ nhân nói hậu sinh khả úy, có người nói chệch ra thành hậu sinh khả ái, hậu sinh khả ố, cái nào đúng hơn đây? Nhưng Thương thì kém chị một tuổi, cũng chẳng thể gọi là hậu sinh, mà là người cùng lứa với chị. Phải chăng những người học văn thường mơ mộng và phóng túng hơn người thường, nhất là khi so với những người học toán khô cằn. Thế cũng chẳng đúng, chị tuy học toán thật, nhưng khi học phổ thông chị không hề dốt văn, ngược lại những bài bình giảng về thơ bao giờ điểm chị cũng rất cao, có khi thầy giáo lấy bài chị làm mẫu đọc cho cả lớp nghe. Chính thầy giáo đó đã đề nghị chị thi vào Tổng hợp văn, nhưng chị từ chối, bởi môn toán, chị là học sinh giỏi của tỉnh, thi đại học khả năng đỗ lớn hơn nhiều. Chị biết văn học không đều, chỉ yêu thơ nên thích bình giảng các đoạn thơ, nhưng chúa sợ những bài bình luận lời ông này, ông nọ mà chị cho rằng chẳng liên quan gì đến văn cả…
– Chị Hồng ơi, sáng thứ năm tuần này ở thư viện Quốc gia có một nhà thơ nói chuyện về thơ tình yêu, em xin được hai giấy mời, chị đi cùng em nhé?
Chị hỏi lại Thương:
– Có phải nhà thơ thường đến thăm em đó không?
Thương giãy nảy:
– Cái chị này! Nhà thơ nói chuyện ở thư viện Quốc gia là nhà thơ chuyên nghiệp, nhà thơ tên tuổi, chứ bạn em chỉ là nhà thơ vườn, nhà thơ nghiệp dư , chưa chắc đã xin được giấy mời, chứ đừng nói chuyện làm diễn giả! Đây là nhà thơ Thiện Tâm hẳn hoi!
– Thế thì em dành cho anh ấy một giấy mời mà đi cho vui. Nhà thơ người ta nói chuyện với giáo viên văn, với người yêu thơ, chứ toán bọn chị nghe thơ khác nào vịt nghe sấm!
– Chị nói khiêm tốn vậy thôi chứ em đã trông thấy mấy tập thơ chị mang theo và quyển vở chị chép những bài ưa thích. Thế em mới mời chị đi đấy chứ.
– Còn nhà thơ nghiệp dư của em thì sao?
– Tuần này đi công tác chị ạ, sáng mai anh ấy lên đường. Nếu không thì em xin thêm một giấy nữa, ba chị em cùng đi.
– Để xem sao đã.
Chị trả lời lấp lửng. Chị từng đọc nhiều tập thơ nhưng chưa từng một lần tiếp xúc với nhà thơ. Thơ của Thiện Tâm, có nhiều bài chị thích, nhất là những bài viết về tình yêu và người phụ nữ. Thứ năm không có giờ lên lớp, kể ra bám đuôi em Thương một lần cũng hay! Nếu hấp dẫn, những lần sau đi tiếp, nếu tẻ nhạt, thì lần sau thôi, có sao đâu. Nghe nói nhiều nhà thơ viết hay nhưng nói chuyện lại nhạt, ngược lại, có nhà thơ viết trung bình nhưng lại hoạt ngôn, nói chuyện hấp dẫn. Không biết Thiện Tâm thuộc loại nào đây?
Sáng thứ năm, Thương dùng xe Dream chở chị từ trường tới thư viện. Dream là xe của anh bạn nhà thơ nghiệp dư của Thương, anh ấy đi công tác nhờ Thương giữ hộ! Cũng là lần đầu tiên chị bước vào thư viện Quốc gia, hồi học Tỏng hợp, sách chuyên môn chỉ mượn ở thư viện nhà trường, chẳng việc gì phải đến đây cả. Khi chị và Thương bước vào, phòng đọc đã gần kín người, người phụ trách thư viện đang giới thiệu đôi nét về nhà thơ Thiện Tâm, rồi nhà thơ lên bục mỉm cười chào thính giả. Khi ấy chị vừa kịp ngồi xuống ghế, và hình như chị cảm thấy ánh mắt nhà thơ dừng lại chỗ mình hơi lâu. Phải chăng vì chiếc áo phông đỏ chị mặc đã làm nhà thơ chú ý? Rõ vớ vẩn, chị tự đính chính sự ngộ nhận của mình, ngồi lại thật nghiêm trang như ngồi trong lớp học.
Nhà thơ nói hết sức say sưa, dù trên bàn có quyển sổ mang theo nhưng nhà thơ không hề nhìn vào, thỉnh thoảng mái tóc sà xuống trán, tay ông vuốt một cái dài, phù hợp với tiết tấu của câu chuyện nên trông rất có duyên. Nhà thơ bao nhiêu tuổi nhỉ? Bốn mươi, bốn lăm, năm mươi? Không thể nào đoán nổi. Chả trách gì có người bảo rằng, nhà thơ là người không có tuổi, và tình yêu của họ luôn luôn trẻ trung. Trước khi giới thiệu một bài thơ tình nào đó, dù của bản thân mình hay các nhà thơ khác, nhà thơ Thiện Tâm thường bộ bạch những quan niệm, triết lý về tình yêu, và trong nhiều trường hợp, phần này lại được người nghe đón nhận nhiệt liệt hơn cả bài thơ giới thiệu. Nhà thơ nói:
– Tình yêu cũng giống như bài ca. Khi người ta đang hát bài hát này thì không thể hát bài hát khác được. Nhưng đừng vì thế mà tưởng cuộc đời chỉ có một bài ca! Chỉ cần hát xong bài hát này, dạo nhạc một lúc là có thể dễ dàng chuyển sang bài hát khác! Tình yêu cũng thế, khi yêu một người nào đó với một tình yêu say đắm, người ta thường nghĩ rằng tạo hoá chỉ sinh ra một anh cho em hoặc một em cho anh! Bởi vậy, có người mới thề thốt: “Anh không lấy em thì anh chết” và có người đã chết thật vì tưởng rằng tạo hoá chỉ sinh ra một người cho một người! Tạo hoá không quá phóng túng nhưng cũng quá tiết kiệm đến như vậy đâu! Khi chúng ta bước ra tình yêu tưởng là duy nhất đẹp đó, có thể chẳng bao lâu chúng ta lại có một tình yêu mới, có khi còn đẹp, nồng cháy và lý tưởng hơn nhiều…
Chị quay sang phía Thương, khi đó cô ta đang nhìn chằm chằm diễn giả như cố nuốt lấy từng lời. Với chị, ý tưởng của nhà thơ cũng thật mới mẻ, nó có sức mạnh xáo trộn mọi thứ tự tưởng đã được an bài trong lòng chị và thức dậy những khả năng tiềm ẩn. Thì ra tình yêu không phải đơn giản như bao năm chị tưởng, hay nói cách khác, nó chỉ đơn giản đối với chị trong thời gian qua, còn đối với nhiều người, nó phức tạp hơn và có lẽ cũng thi vị hơn nhiều.
Sau buổi nói chuyện, nhiều người gặp nhà thơ xin chữ ký làm kỷ niệm, Thương và chị cũng làm như thế và chị có hân hạnh được nhà thơ hỏi địa chỉ của mình.
Trở về phòng cao học, chị lục tìm tập thơ Biển Nhớ của Thiện Tâm trong số tập thơ chị mang theo. Chị đọc nhấm nháp từng bài một như mới gặp lần đầu dù nhiều câu, nhiều bài chị đã thuộc. Như phần lớn tập thơ đã xuất bản gần đây, Biển Nhớ là một tập thơ tình. Chị chán ngấy những bài thơ tán gái rẻ tiền vẫn được mang danh là thơ tình xuất hiện khá nhiều trên thi đàn. Nhưng thơ Biển Nhớ không phải loại đó. Tác giả khá tinh tế khi khai thác tình yêu ở nhiều góc độ, chị đọc thơ mà như thấy người: mái tóc quăn tự nhiên bồng bềnh có khi phủ xuống che khuất một vầng trán và đôi mắt mơ mộng vừa mới nhìn vào xa xăm đã quay lại nhìn thẳng vào mắt chị như muốn hỏi ý kiến của chị về điều nhà thơ muốn nói.
– A, chị Hồng có tập thơ Biển Nhớ mà không cho em mượn với! Thương vén ruy-đô sà vào giường. Từ khi hai người trở nên thân nhau, cái ruy-đô không còn tác dụng cửa khoá đối với nhau nữa. Chị đưa tập thơ cho Thương, nói:
– Thì chị cũng có mang theo mấy tập để trước khi đi ngủ vớ ngẫu nhiên một tập nào đó đọc ít dòng làm thuốc gây ngủ thôi mà. Hôm nay tự nhiên lại vớ đúng tập này, sực nhớ ra tác giả là người vừa nói ở thư viện….
Thương nhìn chị một cái nhìn tinh ranh rồi cầm tập thơ trở về giường mình.
Hơn một tuần sau, Tuấn – nhà thơ nghiệp dư bạn của Thương – đi công tác về vào phòng cao học để lấy xe, tất nhiên là có quà cho người trông xe bấy lâu nay! Điều ngạc nhiên đầy thú vị là người làm chức năng xe ôm đưa Tuấn tới tối hôm đó không phải là ai khác mà chính là nhà thơ Thiện Tâm. Thì ra hai người đàn ông đó quen biết nhau từ lâu, Tuấn coi Thiện Tâm như một người thầy về nghề nghiệp nhưng khá thân mật trong tình bạn. Tuấn giới thiệu trịnh trọng Thiện Tâm với hai người bạn gái, trong khi Thiện Tâm tỏ ra khá lịch sự và dè dặt.
Chị cảm thấy lúng túng khi vén ruy-đô để có chỗ ngồi cho khách. Thương cũng thu xếp lại giường và đưa tập thơ Biển Nhớ lên trước mặt Thiện Tâm:
– Sách của chị Hồng đây! Chị ấy đọc thuộc không sót một bài nào rồi mới cho em mượn đấy!
Thiện Tâm đón tập thư từ tay Thương, lật giở từng trang để tìm bút tích của chủ nhân quyển sách. Tuấn đề nghị:
– Tôi muốn mời mọi người ra quán uống cà phê hay cái gì tương tự!
“Mọi người” ở đây cũng chỉ là bốn người đó thôi, vì hai cô giáo sinh vật lúc này không ở nhà. Chị có vẻ phân vân, nhưng cảm thấy nếu ở lại trong phòng lúc này cũng không hay lắm, bởi không có nước gì mời khách, hơn nữa hai cô giáo sinh vật cũng sắp về, lúc đó nếu bốn người rủ nhau đi uống nước e không tiện. Thế là bốn người đưa nhau ra quán.
Chỉ ba ngày sau chị nhận được bức thư từ bưu điện, lúc đầu tưởng là thư chồng, vì cũng khá lâu, chị chỉ nhận được thư anh ấy mà thôi. Nhưng lần này thì chị nhầm: toàn bộ bức thư là một bài thơ tặng chị, không nhìn tên tác giả cuối bài chị cũng biết thơ đó của ai rồi. Nếu như cách đây mấy tháng, ai đó cả gan tặng nhị những lời ve vuốt như thế thì chắc chắn chị đã xé nát ra hoặc lịch sự hơn là trả lại người gửi, nhưng lúc này chị không làm như thế, chị đọc kỹ từng câu với sự rạo rực mấy năm trời ít thấy xuất hiện trong người chị. Chị đưa bức thư cho Thương đọc rồi hai người bình luận về nghệ thuật và tình cảm của tác giả!
Việc học hành của chị không có gì đáng phàn nàn. Chị vẫn dự đủ giờ lên lớp, làm trọn vẹn yêu cầu của giáo sư hướng dẫn, chỉ có điều đổi khác là có lúc chị cảm thấy không hề nhớ tới hoặc nhớ nhưng không da diết ngôi nhà và mảnh vườn của mình ở thị xã. Có lúc nhận được thư chồng, chị đọc không còn háo hức, đọc xong cũng không vội trả lời, bởi chuyện học hành không có gì đặc biệt!
Một hôm, Thương nói với chị:
– Chung quanh Hà Nội có nhiều cảnh đẹp lắm mà chị em ta chưa có dịp tham quan. Học hành cũng cần có thời gian giải trí thì học mới vào phải không chị?
– Chị em mình thì làm gì có điều kiện mà đòi tham quan?
– Không lo đâu chị ạ, nếu chị đồng ý, sẽ có người đưa chị em mình đi đến nơi, về đến chốn!
Rồi cuộc picnic được tổ chức. Hai chiếc xe Dream với hai ” tay lái lụa” đã đưa bốn người ra ngoại thành đi về khu du lịch Đồng Mô. Lúc lên xe của nhà thơ, chị ý tứ ngồi lùi xa xa, nhà thơ đã quay lại nói đùa một câu xịch chị ngồi sát lại phía lưng anh để “tránh tai nạn đáng tiếc” có thể xảy ra.
Xe của Tuấn chạy trước, chị thấy Thương dùng hai tay ôm eo tài xế hết sức tự nhiên, hai người nói cười thật rôm rả. Hình như “đội bạn” muốn làm mẫu cho “đội nhà” là hai tân binh, học tập, nhưng chị vẫn còn dè dặt, mặc dù mấy lần đường xóc, ngực chị đã áp sát vào lưng anh nóng hổi. Nhà chị cũng có xe máy, chồng chị không biết bao lần lai chị đi, nhưng chưa có lần nào chị cảm thấy phấn chấn, con người như hoà vào thiên nhiên, không khí đồng quê thanh sạch như lần này. Đến khu du lịch, gửi xe lại, ca-nô chở bốn người qua hồ tới một hòn dảo nhỏ biệt lập với thế giới xung quanh. Trên bãi cỏ, dưới bóng cây râm mát, họ đã trải ni-lông, bày đủ loại thức ăn, thức uống cùng nhiều loại trái cây, trong khi đó ca-nô về bến, hẹn ba tiếng đồng hồ sau sẽ đến đón…
Sau vài cuộc picnic tập thể như chuyến Đồng Mô, một lần, trước lúc cha tay, Tuấn nói:
– Có nhà văn nói rằng:”trẻ con thích đi thành đàn, thanh niên thích đi thành đôi, còn ông già đi từng người một!”. Chúng ta không phải trẻ con, không phải người già, có lẽ cũng không nên đi thành đoàn, mà từ chuyến sau ta đi thành đôi cho hợp quy luật!
– Em đồng ý đấy, chị Hồng thế nào?
Thương phấn khởi ra mặt trước đề nghị của Tuấn. Thiện Tâm cúi nhìn sát mặt Hồng, khi đó đang đứng cạnh anh, sát chiếc Dream. Hồng lặng thinh và cảm thấy đề nghị của Tuấn không có gì đột ngột. Cái gì đến nó sẽ đến. Nhưng có lẽ yên lặng là tốt nhất. Thiện Tâm biết vậy nên không hỏi ý kiến chị, chỉ có khác mọi lần là khi chia tay, anh nắm lấy bàn tay của chị hơi lâu, và dường như lòng bàn tay anh có nói điều gì đấy với bàn tay chị.
Từ đấy có những cuộc hẹn hò riêng biệt cho từng cặp. Điều này thuận tiện hơn nhiều so với những chuyến đi tập thể, vì gọn nhẹ, dễ tổ chức hơn và có chuyện gì xảy ra chỉ có hai người biết với nhau, vừa tế nhị, vừa bảo đẩm được kín đáo. Thứ năm chị không có giờ lên lớp nên chọn thứ năm làm thứ hẹn. Thời buổi tin học này, điện thoại hỗ trợ cho tình yêu thật đắc lực. Dù phòng cao học không có máy điện thoại, nhưng chỉ đi ra mấy chục thước là có máy dịch vụ, chị đã đăng ký tên mình ở đây để anh gọi vào. Lại chờ đợi, hồi hộp và có khi giận dỗi. Bao nhiêu thuộc tính của tình yêu chị đã bỏ qua những năm đại học thì khi học cao học chị đã truy lĩnh, không những truy lĩnh đầy đủ mà còn được nhân lên với hệ số k khá lớn. Trước đây chị sợ độ dài của hai năm cao học bao nhiêu thì giờ đây, chị lo ngày kết thúc đến gần bấy nhiêu. Có lần chị hỏi Thương:
– Chị định sau khi nhận bằng thạc sĩ, chị ở lại ôn thi vào lớp nghiên cứu sinh. Em có định thế không?
Thương ngúng ngẩy:
– Em thì em cáo thôi! Chỉ hai năm cao học đủ lắm rồi, em phải về chăm lo chồng con và gia đình chứ!
Vẫn biết quan hệ giữa Thương và Tuấn dạo này có trục trặc, nhưng chị không ngờ Thương lại có thể nói giọng đạo đức như vậy trước chị, khi hai người đã quá hiểu về nhau. Hình như hiểu được suy nghĩ của chị, Thương nói lại:
– Chị học giỏi thế, thi tiếp nghiên cứu sinh là phải. Còn em, chị thấy đấy, có bằng thạc sĩ là tốt lắm rồi! Thi xong là em về ngay với anh chàng cảnh sát của em. Em sẽ yêu thương chiều chuộng anh ấy “cho bõ lúc xa sầu cách nhớ”, em nói với anh ấy rằng:”chẳng ai thương mình bằng chúng mình thương nhau”…
– Thế à?
Chị hỏi lại một câu ráo hoảnh làm cho Thương cụt hứng.
Đó là những ngày cuối cùng ở lớp cao học của hai người!
Vương Trọng